Thời Kỳ A Hàm

‘Friends, monks!’ ‘Friend!’ replied the monks. And the Venerabl Sāriputta said: ‘In growing groups from one to ten I’ll teach: Dhamma for the gaining of Nibbāna, That you may make an end of suffering, And be free from all the ties that bind. "Này các Hiền giả Tỷ kheo". "Thưa Hiền giả" các vị Tỷ kheo ấy đáp ứng tôn giả Sàriputta, tôn giả Sàriputta nói như sau: Tôi nói Thập thượng pháp, Pháp đưa đến Niết-bàn, Diệt trừ mọi khổ đau, Giải thoát mọi triền phược...

Noting his assent, the Mallas rose, saluted him, passed out to his right and went to the meeting-hall. They spread mats all round, arranged seats, put out a water-pot and an oil-lamp, and then, returning to the Lord, saluted him, sat down to one side and reported what they had done, saying: ‘Whenever the Blessed Lord is ready.’ Rồi các vị Mallà ở Pàvà, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng đến Ngài, từ tạ đi đến hội trường. Sau khi đến, liền dùng đệm trải khắp tất cả, sửa soạn các ghế ngồi, đặt sẵn một ghè nước, treo cây đèn dầu, rồi đến chỗ Thế Tôn ở. Sau khi đến, các vị này đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, các vị Mallà ở Pàvà bạch Thế Tôn: - Bạch Thế Tôn, hội trường đã được trải nệm tất cả, các ghế ngồi đã được sửa soạn, ghè nước đã được đặt sẵn, cây đèn dầu đã được treo lên, Thế Tôn hãy làm gì Ngài nghĩ là phải thời...

Monks, you should learn these Āṭānāṭā protective verses, master them and remember them. They are for your benefit, and through them monks and nuns, male and female lay-followers may dwell guarded, protected, unharmed and at ease.’ Thus the Lord spoke. And the monks were delighted and rejoiced at his words. Này các Tỷ-kheo, hãy học Hộ Kinh Atànàtiyà này, hãy thuộc lòng Kinh Atànàtiyà này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc. Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ thọ trì lời dạy Thế Tôn...

‘What are the four causes of evil from which he refrains? Evil action springs from attachment, it springs from ill-will, it springs from folly, it springs from fear. If the Ariyan disciple does not act out of attachment, ill-will, folly or fear, he will not do evil from any one of the four causes.’ Thus the Lord spoke. Thế nào là không làm ác nghiệp theo bốn lý do? Ác nghiệp làm do tham dục, ác nghiệp làm do sân hận, ác nghiệp làm do ngu si, ác nghiệp làm do sợ hãi. Này Gia chủ tử, vì vị Thánh đệ tử không tham dục, không sân hận, không ngu si, không sợ hãi, nên không làm ác nghiệp theo bốn lý do. Thế Tôn thuyết giảng như vậy...

Being endowed with this mark, ... as a ruler he will suffer little distress or sickness, his digestion will be good, being neither too cold nor too hot.963 As a Buddha likewise, he is also equable and tolerant of exertion.’ This was what the Lord declared. Ngài đầy đủ với tướng này, nếu sống tại gia thì làm vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Thiểu bệnh, thiểu não, tiêu hóa tốt đẹp, nhiệt độ thăng bằng, không lạnh quá, không nóng quá. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Thiểu bệnh, thiểu não, tiêu hóa tốt đẹp, nhiệt độ thăng bằng, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình, có thể kham nhẫn, siêng năng. Làm Phật được như vậy. Thế Tôn thuyết giảng như vậy...

‘Then they may say: “Why has the ascetic Gotama not revealed this?” They should be told: “Friend, this is not conducive to welfare or to the Dhamma, or to the higher holy life, or to disenchantment, dispassion, cessation, tranquillity, realisation, enlightenment, Nibbāna. That is why the Lord has not revealed it.” Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: "Này Hiền giả, vì sao Sa môn Gotama lại không nói?" Này Cunda, được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: "Này Hiền giả, vì không liên hệ đến lợi ích, không liên hệ đến Pháp, không liên hệ đến căn bản phạm hạnh, không hướng đến yểm ly, vô tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Do vậy Thế Tôn không trả lời."...

‘Also unsurpassed is the Blessed Lord’s way of teaching Dhamma in regard to the elucidation of the sense-spheres: there are the six internal and external sense-bases:859 eye and visible objects, ear and sounds, nose and smells, tongue and tastes, body and tactiles, mind and mind-objects. This is the unsurpassed teaching in regard to the sense-spheres ... Bạch Thế Tôn, lại nữa, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về sự trình bày các Nhập xứ. Bạch Thế Tôn, sáu nội xứ và ngoại xứ, tức là mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượng về sự trình bày các Nhập xứ. Tất cả điểm này, Thế Tôn đã biết và ngoài sự hiểu biết của Ngài, không có gì còn lại để hiểu biết hơn nữa. Không có một ai, một Sa môn hay một Bà-la-môn nào khác có thể chứng biết hơn Thế Tôn về vấn đề trình bày các Nhập xứ...

‘And a Khattiya who is restrained in body, speech and thought, and who has developed the seven requisites of enlightenment, 854 will attain to Parinibbana855 in this very life. So too will a Brahmin, a Vessa or a Sudda. Này Vàsettha, vị Khattiya, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại. Này Vàsettha, vị Bà-la-môn... vị Vessà... Này Vàsettha vị Suddà, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại...

‘Once, monks, there was a wheel-turning monarch named Daḷhanemi, a righteous monarch of the law, conqueror of the four quarters, who had established the security of his realm and was possessed of the seven treasures. These are: the Wheel Treasure, the Elephant Treasure, the Horse Treasure, the Jewel Treasure, the Woman Treasure, the Householder Treasurer, and, as seventh, the Counsellor Treasure. He has more than a thousand sons who are heroes, of heroic stature, conquerors of the hostile army. He dwells having conquered this sea-girt land without stick or sword, by the law (as Sutta 3, verse 1.5). Thuở xưa, này các Tỷ kheo, có Vua Chuyển luân Thánh vương tên là Dalhanemi (Kiên-cố-niệm), là vị pháp vương, lấy Chánh pháp trị nước, chinh phục bốn thiên hạ, thống trị các quốc độ và đầy đủ bảy món báu. Vị ấy có đầy đủ báy món báu, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị ấy có hơn một ngàn hoàng tử, dõng kiện, hùng mạnh, nhiếp phục ngoại địch. Vị này trị vì quả đất này cho đến hải biên, dùng Chánh pháp trị nước, không dùng trượng, không dùng kiếm...

Then Nigrodha saw Sandhāna approaching from a distance, and he called his followers to order, saying:‘Be quiet, gentlemen, don’t make a noise, gentlemen! The householder Sandhāna, a follower of the ascetic Gotama, is approaching. He is one of the number of white-robed householder followers of the ascetic Gotama in Rājagaha. And these good folk are fond of quiet, they are taught to be quiet and speak in praise of quiet. If he sees that this company is quiet, he will most likely want to come and visit us.’ At this the wanderers fell silent. Du sĩ Nigrodha thấy gia chủ Sandhana từ đàng xa đến, liền dặn hội chúng của mình: - Các Tôn giả hãy giữ im lặng, các Tôn giả chớ có làm ồn! Ðệ tử Sa môn Gotama, gia chủ Sandhana đang đi đến. Trong hàng đệ tử Sa môn Gotama, các hàng cư sĩ, mặc áo trắng, trú tại Vương Xá, gia chủ Sandhana là một vị trong đoàn thể ấy. Các vị này ưa sự an tịnh, các vị này được huấn luyện trong sự an tịnh, các vị này tán thán sự an tịnh. Nếu được biết hội chúng này an tịnh, Sandhana có thể đến đây. Khi nghe nói vậy, các vị du sĩ đều giữ yên lặng...

Tìm Bài - Search

Sự Kiện Phật Pháp

info :
Published menu link to the component iCagenda not found!
July 2019
Mon Tue Wed Thu Fri Sat Sun
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31