Friday, 28 April 2017 03:47

143. Quyển III - Chương 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Độc - Song ngữ

Written by
Rate this item
(0 votes)

 

Middle-length Discourses of the Buddha

Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya)

Anh ngữ: Bhikkhu Ñāṇamoli

Việt ngữ: Hòa thượng Thích Minh Châu        

Part III – MN 143. Advice to Anathapindika.

143. Quyển III - Chương 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Độc.

 

143                  

 

1. Thus have I heard.

Như vầy tôi nghe.

On one occasion the Blessed One was living at Savatthi in Jeta’s Grove, Anathapindika’s Park.

Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana, (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Độc).

2. Now on that occasion the householder Anathapindika was afflicted, suffering, and gravely ill. Then he addressed a certain man thus:

-- “Come, good man, go to the Blessed One, pay homage in my name with your head at his feet, and say: ‘Venerable sir, the householder Anathapindika is afflicted, suffering, and gravely ill; he pays homage with his head at the Blessed One’s feet.’ Then go to the venerable Sariputta, pay homage in my name with your head at his feet, and say: ‘Venerable sir, the householder Anathapindika is afflicted, suffering, and gravely ill; he pays homage with his head at the venerable Sariputta’s feet.’ Then say: ‘It would be good, venerable sir, if the venerable Sariputta would come to the residence of the householder Anathapindika, out of compassion.’“

Lúc bấy giờ, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi cư sĩ Cấp Cô Độc gọi một người:

-- Hãy đến đây, này Bạn. Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch như sau: "Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Cấp Cô Độc xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn". Rồi đi đến Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất), sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: "Thưa Tôn giả, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Cấp Cô Độc xin cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: "Thưa Tôn giả, lành thay, nếu Tôn giả Sariputta vì lòng từ mẫn, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Độc".

--“Yes, sir,”

The man replied, and he went to the Blessed One, and after paying homage to the Blessed One, he sat down at one side and delivered his message. Then he went to the venerable Sariputta, and after paying homage to the venerable Sariputta, he delivered his message, saying: “It would be good, venerable sir, if the venerable Sariputta would come to the residence of the householder Anathapindika, out of compassion.” The venerable Sariputta consented in silence.

-- Thưa vâng, Tôn giả.

Người ấy vâng đáp cư sĩ Cấp Cô Độc, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ chân Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.

Rồi người ấy đi đến Tôn giả Sariputta, sau khi đến đảnh lễ Tôn giả Sariputta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy thưa với Tôn giả Sariputta:

-- Thưa Tôn giả, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: "Thưa Tôn giả, tốt lành thay, nếu Tôn giả Sariputta vì lòng từ mẫn đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Độc". Tôn giả Sariputta im lặng nhận lời.

3. Then the venerable Sariputta dressed, and taking his bowl and outer robe, went to the residence of the householder Anathapindika with the venerable Ananda as his attendant. Having gone there, [259] he sat down on a seat made ready and said to the householder Anathapindika:

-- “I hope you are getting well, householder, I hope you are comfortable. I hope your painful feelings are subsiding and not increasing, and that their subsiding, not their increase, is apparent.”

Rồi Tôn giả Sariputta đắp y, cầm y bát, cùng với Tôn giả Ananda là thị giả, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Độc, sau khi đến liền ngồi lên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Sariputta nói với cư sĩ Cấp Cô Độc.

-- Này Cư sĩ, ta mong rằng Ông có thể kham nhẫn; Ta mong rằng Ông có thể chịu đựng. Ta mong rằng khổ thọ được giảm thiểu, không gia tăng, sự giảm thiểu được rõ rệt, không có gia tăng.

4. “Venerable Sariputta, I am not getting well, I am not comfortable. My painful feelings are increasing, not subsiding; their increase and not their subsiding is apparent. Just as if a strong man were splitting my head open with a sharp sword, so too, violent winds cut through my head. I am not getting well … Just as if a strong man were tightening a tough leather strap around my head as a headband, so too, there are violent pains in my head. I am not getting well … Just as if a skilled butcher or his apprentice were to carve up an ox’s belly with a sharp butcher’s knife, so too, violent winds are carving up my belly. I am not getting well … Just as if two strong men were to seize a weaker man by both arms and roast him over a pit of hot coals, so too, there is a violent burning in my body. I am not getting well, I am not comfortable. My painful feelings are increasing, not subsiding; their increase and not their subsiding is apparent.”

-- Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Sự khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, ví như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu con. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết chặt; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, con cảm thấy bị đau đầu một cách kinh khủng. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của con. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, ví như hai người lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân con. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những thống khổ của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu.

5. “Then, householder, you should train thus: ‘I will not cling to the eye, and my consciousness will not be dependent on the eye.’  Thus you should train. You should train thus: ‘I will not cling to the ear … I will not cling to the nose … 1 will not cling to the tongue … I will not cling to the body … I will not cling to the mind, and my consciousness will not be dependent on the mind.’ Thus you should train.

-- Do vậy, này Cư sĩ hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ con mắt, và tôi sẽ không có thức y cứ vào con mắt". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ tai, và tôi sẽ không có thức y cứ vào tai". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ mũi... y cứ vào mũi... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ lưỡi... y cứ vào lưỡi.... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ thân... y cứ vào thân... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ ý... y cứ vào ý... hãy học tập như vậy.

6. “Householder, you should train thus: ‘I will not cling to forms … I will not cling to sounds … I will not cling to odours ... I will not cling to flavours … I will not cling to tangibles ... I will not cling to mind-objects, and my consciousness will not be dependent on mind-objects.’ Thus you should train.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ hình dạng, và tôi sẽ không có thức y cứ vào hình dạng". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ tiếng... y cứ vào tiếng... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ hương... y cứ vào hương... hãy học tập như vậy. Do vậy.... không chấp thủ vị... y cứ vào vị... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ xúc... y cứ vào xúc... hãy học tập như vậy. Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ pháp, và tôi sẽ không có thức y cứ vào pháp". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

7. “Householder, you should train thus: ‘I will not cling to eye-consciousness … I will not cling to ear-consciousness … I will not cling to nose-consciousness … I will not cling to tongueconsciousness ... I will not cling to body-consciousness … I will not cling to mind-consciousness, and my consciousness will not be dependent on mind-consciousness.’ Thus you should train.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ nhãn thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhãn thức". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ thức... Tôi sẽ không chấp thủ tỷ thức... Tôi sẽ không chấp thủ thiệt thức... Tôi sẽ không chấp thủ thân thức... Tôi sẽ không chấp thủ ý thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ý thức". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

8. “Householder, you should train thus: ‘I will not cling to eye-contact … [260] … I will not cling to ear-contact … I will not cling to nose-contact … I will not cling to tongue-contact … I will not cling to body-contact … I will not cling to mind-contact, and my consciousness will not be dependent on mind-contact.’ Thus you should train.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ nhãn xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhãn xúc". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ xúc... Tôi sẽ không chấp thủ tỷ xúc... Tôi sẽ không chấp thủ thiệt xúc... Tôi sẽ không chấp thủ thân xúc… Tôi sẽ không chấp thủ ý xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ý xúc". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

9. “Householder, you should train thus: ‘I will not cling to feeling born of eye-contact … I will not cling to feeling born of ear-contact … I will not cling to feeling born of nose-contact ... I will not cling to feeling born of tongue-contact … I will not cling to feeling born of body-contact ... I will not cling to feeling born of mind-contact, and my consciousness will not be dependent on feeling born of mind-contact.’ Thus you should train.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhãn xúc sanh khởi, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do nhãn xúc sanh khởi". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhĩ xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do tỷ xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thiệt xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thân xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do ý xúc sanh khởi và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do ý xúc sanh khởi". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

10. “Householder, you should train thus: ‘I will not cling to the earth element … I will not cling to the water element … I will not cling to the fire element … I will not cling to the air element … I will not cling to the space element … I will not cling to the consciousness element, and my consciousness will not be dependent on the consciousness element.’ Thus you should train.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ địa giới, và tôi sẽ không có thức y cứ vào địa giới". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ thủy giới... Tôi sẽ không chấp thủ hỏa giới... Tôi sẽ không chấp thủ phong giới... Tôi sẽ không chấp thủ hư không giới... Tôi sẽ không chấp thủ thức giới và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

11. “Householder, you should train thus: ‘I will not cling to material form … I will not cling to feeling … I will not cling to perception … I will not cling to formations … I will not cling to consciousness, and my consciousness will not be dependent on consciousness.’ Thus you should train.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ sắc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào sắc". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ thọ... Tôi sẽ không chấp thủ tưởng... Tôi sẽ không chấp thủ hành... Tôi sẽ không chấp thủ thức và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

12. “Householder, you should train thus: ‘I will not cling to the base of infinite space … 1 will not cling to the base of infinite consciousness … I will not cling to the base of nothingness [261] … I will not cling to the base of neither-perception-nor-nonperception, and my consciousness will not be dependent on the base of neither-perception-nor-non-perception.’ Thus you should train.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ Hư không vô biên xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Hư không vô biên xứ". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ Thức vô biên xứ... Tôi sẽ không chấp thủ Vô sở hữu xứ... Tôi sẽ không chấp thủ Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

13. “Householder, you should train thus: ‘I will not cling to this world, and my consciousness will not be dependent on this world. I will not cling to the world beyond, and my consciousness will not be dependent on the world beyond.’ Thus you should train.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ thế giới ở đây và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới ở đây". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ thế giới khác, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới khác". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

14. “Householder, you should train thus: ‘I will not cling to what is seen, heard, sensed, cognized, encountered, sought after, and examined by the mind, and my consciousness will not be dependent on that.’ Thus you should train.”

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ những gì được thấy, được nghe, được cảm thọ, được nhận thức, được hy cầu, được tư sát với ý, và tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp (nói trên)". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

15. When this was said, the householder Anathapindika wept and shed tears. Then the venerable Ananda asked him:

-- “Are you foundering, householder, are you sinking?”

-- “I am not foundering, venerable Ananda, I am not sinking. But although I have long waited upon the Teacher and bhikkhus worthy of esteem, never before have I heard such a talk on the Dhamma.”

-- “Such talk on the Dhamma, householder, is not given to lay people clothed in white. Such talk on the Dhamma is given to those who have gone forth.”

-- “Well then, venerable Sariputta, let such talk on the Dhamma be given to lay people clothed in white. There are clansmen with little dust in their eyes who are wasting away through not hearing [such talk on] the Dhamma. There will be those who will understand the Dhamma.”

Khi nghe nói vậy, cư sĩ Cấp Cô Độc khóc và chảy nước mắt. Rồi Tôn giả Ananda nói với cư sĩ Cấp Cô Độc:

-- Này Cư sĩ, Ông đang gượng lên mà sống, hay chìm xuống (cõi chết)?

-- Thưa Tôn giả Ananda, con không gượng lên mà sống, con đang chìm xuống cõi chết. Dầu cho bậc Đạo sư được con hầu hạ đã lâu và dầu các vị Tỷ-kheo, tu tập ý lực con chưa từng được nghe một thời thuyết pháp như vậy.

-- Này Cư sĩ, thuyết pháp như vậy không nói cho các hàng cư sĩ mặc áo trắng. Này Cư sĩ, thuyết pháp như vậy nói cho các hàng xuất gia.

-- Vậy thưa Tôn giả Sariputta, hãy thuyết pháp như vậy cho hàng cư sĩ mặc áo trắng. Thưa Tôn giả Sariputta, có những Thiện gia nam tử sanh ra với cấu uế không nhiều, nếu không được nghe pháp, sẽ bị đọa lạc; nhưng họ không thể biết được (Chánh) pháp.

16. Then, after giving the householder Anathapindika this advice, the venerable Sariputta and the venerable Ananda rose from their seats and departed. Soon after they had left, [262] the householder Anathapindika died and reappeared in the Tusita heaven.

Rồi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda sau khi giảng dạy cho cư sĩ Cấp Cô Độc với bài thuyết giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi cư sĩ Cấp Cô Độc, sau khi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda ra đi không bao lâu, sau khi thân hoại mạng chung liền sanh lên cõi Tusita (Đâu-suất thiên).

17. Then, when the night was well advanced, Anathapindika, now a young god of beautiful appearance, went to the Blessed One, illuminating the whole of Jeta’s Grove. After paying homage to the Blessed One, he stood at one side and addressed the Blessed One in stanzas:

Rồi Thiên tử Cấp Cô Độc, khi đêm đã gần mãn, sau khi chói sáng toàn cảnh Jetavana (Kỳ-đà-Lâm) với dung sắc thù thắng đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Đứng một bên, Thiên tử Cấp Cô Độc nói lên với Thế Tôn bài kệ sau đây:

“Oh blessed is this Jeta’s Grove,

Dwelt in by the sagely Sangha,

Wherein resides the King of Dhamma,

The fount of all my happiness.

Rừng Jetavana,

Tốt đẹp phước lành này,

Được chư Thiên, chúng Tăng,

Thường lui tới an trú,

Được Pháp Vương trú trì,

Ban hoan hỷ cho ta.

By action, knowledge and Dhamma,

By virtue and noble way of life –

By these are mortals purified,

Not by lineage or wealth.

Nghiệp, minh và Chánh pháp,

Giới, tối thượng sanh mạng,

Chính nhờ các pháp trên,

Khiến chúng sanh thanh tịnh,

Không phải do giai cấp,

Không phải do tài sản.

Therefore a wise person who sees

What truly leads to his own good,

Should investigate the Dhamma

And purify himself with it.

Do vậy bậc Hiền giả,

Thấy rõ mục đích mình,

Suy tư pháp chân chánh,

Được thanh tịnh ở đây.

Sariputta has reached the peak

In virtue, peace, and wisdom’s ways;

Any bhikkhu who has gone beyond

At best can only equal him.”

Như Sariputta,

Về tuệ, giới, tịch tịnh,

Bất luận Tỷ-kheo nào,

Đã tới bờ bên kia,

Hãy đạt được tối thắng

Trong những pháp kể trên.

18. That is what the young god Anathapindika said, and the Teacher approved. Then the young god Anathapindika, thinking: “The Teacher has approved of me,” paid homage to the Blessed One, and keeping him on his right, he vanished at once.

Thiên tử Cấp Cô Độc nói như vậy. Bậc Đạo sư tán đồng. Rồi Thiên tử Cấp Cô Độc suy nghĩ: "Bậc Đạo sư tán đồng ta." Sau khi đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.

19. When the night had ended, the Blessed One addressed the bhikkhus thus:

-- “Bhikkhus, last night when the night was well advanced, there came to me a certain young god of beautiful appearance who illuminated the whole of Jeta’s Grove. After paying homage to me, he stood at one side and addressed me in stanzas thus:

Rồi Thế Tôn, khi đêm ấy đã mãn, gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, đêm nay, một vị Thiên tử, khi đêm đã gần mãn, chiếu sáng toàn cảnh Jetavana với dung sắc thù thắng đã đi đến Ta, sau khi đến đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên tử ấy nói lên với Ta bài kệ sau đây:

‘Oh blessed is this Jeta’s Grove …

At best can only equal him.’ [263]

    Rừng Jetavana,

    Tốt đẹp phước lành này,

    Được chư Thiên, chúng Tăng,

    Thường lui tới an trú,

    Được Pháp Vương trú trì,

    Ban hoan hỷ cho ta.

    Nghiệp, minh và Chánh pháp,

    Giới, tối thượng sanh mạng,

    Chính nhờ các pháp trên,

    Khiến chúng sanh thanh tịnh,

    Không phải do giai cấp,

    Không phải do tài sản.

    Do vậy bậc Hiền giả,

    Thấy rõ mục đích mình,

    Suy tư pháp chân chánh,

    Được thanh tịnh ở đây.

    Như Sariputta,

    Về tuệ, giới, tịch tịnh,

    Bất luận Tỷ-kheo nào,

    Đã tới bờ bên kia,

    Hãy đạt được tối thắng

    Trong những pháp kể trên.

That is what the young god said. Then the young god, thinking: ‘The Teacher has approved of me,’ paid homage to me, and keeping me on his right, he vanished at once.”

Nói vậy xong, này các Tỷ-kheo, vị Thiên tử ấy suy nghĩ: "Bậc Đạo sư tán đồng ta, " sau khi đảnh lễ thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.

20. When this was said, the venerable Ananda said to the Blessed One:

-- “Surely, venerable sir, that young god must have been Anathapindika. For the householder Anathapindika had perfect confidence in the venerable Sariputta.”

“Good, good, Ananda! You have deduced the right conclusion. That young god was Anathapindika, no one else.”

That is what the Blessed One said. The venerable Ananda was satisfied and delighted in the Blessed One’s words.

Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, có phải vị ấy là Thiên tử Cấp Cô Độc chăng? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Độc có lòng tịnh tín bất động đối với Tôn giả Sariputta.

-- Lành thay, lành thay, Ananda! Những gì có thể thành đạt được bởi suy tư đã được đạt đến, này Ananda. Chính Cấp Cô Độc là vị Thiên tử ấy, không một ai khác.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

 

Source:

Tài liệu tham khảo:

  1. http://thuvienhoasen.org/p15a1047/143-kinh-giao-gioi-cap-co-doc-anathapindikovada-sutta
  2. http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/
  3. http://lirs.ru/lib/sutra/The_Middle_Length_Discourses(Majjhima_Nikaya),Nanamoli, Bodhi, 1995.pdf

****END****

Read 127 times Last modified on Saturday, 07 April 2018 06:16

Tìm Bài - Search

Sự Kiện Phật Pháp

info :
Published menu link to the component iCagenda not found!
August 2019
Mon Tue Wed Thu Fri Sat Sun
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31