Friday, 28 April 2017 03:56

145. Quyển III - Chương 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na - Song ngữ

Written by
Rate this item
(0 votes)

 

Middle-length Discourses of the Buddha

Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya)

Anh ngữ: Bhikkhu Ñāṇamoli

Việt ngữ: Hòa thượng Thích Minh Châu        

Part III – MN 145. Advice to Punna.

145. Quyển III - Chương 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na.

 

145                               

 

1. Thus have I heard.

Như vầy tôi nghe.

On one occasion the Blessed One was living at Savatthi in Jeta’s Grove, Anathapindika’s Park. Then, when it was evening, the venerable Purina rose from meditation and went to the Blessed One.  After paying homage to the Blessed One, he sat down at one side and said to him:

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-Lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Độc).

Rồi Tôn giả Punna (Phú-lâu-na), vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Punna bạch Thế Tôn:

2. “Venerable sir, it would be good if the Blessed One would give me brief advice. Having heard the Dhamma from the Blessed One, I will abide alone, withdrawn, diligent, ardent, and resolute.”

-- “Well then, Purina, listen and attend carefully to what I shall say.”

-- “Yes, venerable sir,”

The venerable Purina replied. The Blessed One said this:

-- Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt cho con, để con có thể, sau khi nghe Thế Tôn, sống một mình, nhàn tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

-- Vậy này Punna, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Punna vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

3. “Punna, there are forms cognizable by the eye that are wished for, desired, agreeable, and likeable, connected with sensual desire and provocative of lust. If a bhikkhu delights in them, welcomes them, and remains holding to them, delight arises in him. With the arising of delight, Punna, there is the arising of suffering, I say.  There are, Punna, sounds cognizable by the ear … odours cognizable by the nose … flavours cognizable by the tongue … tangibles cognizable by the body … mind-objects cognizable by the mind that are wished for, desired, agreeable, and likeable, connected with sensual desire [268] and provocative of lust. If a bhikkhu delights in them, welcomes them, and remains holding to them, delight arises in him. With the arising of delight, Punna, there is the arising of suffering, I say.

-- Này Punna, có những sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ tán thưởng, chấp thủ và an trú trong ấy, thời do hoan hỷ tán thưởng, chấp thủ và an trú, dục hỷ sanh; và này Punna, Ta nói rằng, từ sự tập khởi của dục hỷ, là sự tập khởi của khổ. Này Punna, có những tiếng do tai nhận thức; có những hương do mũi nhận thức; có những vị do lưỡi nhận thức; có những cảm xúc do thân nhận thức; có những pháp do ý nhận thức; khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán thưởng, chấp thủ và an trú trong ấy, thời do hoan hỷ, tán thưởng, chấp thủ và an trú tham đắm, dục hỷ sanh; và này Punna. Ta nói rằng, từ sự tập khởi của dục hỷ, là sự tập khởi của khổ.

4. “Punna, there are forms cognizable by the eye … sounds cognizable by the ear … odours cognizable by the nose … flavours cognizable by the tongue … tangibles cognizable by the body … mind-objects cognizable by the mind that are wished for, desired, agreeable, and likeable, connected with sensual desire and provocative of lust. If a bhikkhu does not delight in them, welcome them, and remain holding to them, delight ceases in him. With the cessation of delight, Punna, there is the cessation of suffering, I say.

Này Punna, có những sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả hỷ, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán thưởng, không chấp thủ và an trú, thời dục hỷ diệt. Này Punna, Ta nói rằng, tự sự diệt tận dục hỷ là sự diệt tận đau khổ. Này Punna, có những tiếng do tai nhận thức; có những hương do mũi nhận thức; có những vị do lưỡi nhận thức; có những cảm xúc do thân nhận thức; có những pháp do ý nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán thưởng, không chấp thủ và an trú, thời dục hỷ diệt. Này Punna, Ta nói rằng, từ sự diệt tận dục hỷ là sự diệt tận đau khổ.

5. “Now that I have given you this brief advice, Punna, in which country will you dwell?”

-- “Venerable sir, now that the Blessed One has given me this brief advice, I am going to dwell in the Sunaparanta country.”

-- “Punna, the people of Sunaparanta are fierce and rough. If they abuse and threaten you, what will you think then?”

-- “Venerable sir, if the people of Sunaparanta abuse and threaten me, then I shall think: ‘These people of Sunaparanta are kind, truly kind, in that they did not give me a blow with the fist.’ Then I shall think thus, Blessed One; then I shall think thus, Sublime One.”

Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?

-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.

-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?

-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: "Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta". Bạch Thế Tôn, tại đây con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thế, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.

-- “But, Punna, if the people of Sunaparanta do give you a blow with the fist, what will you think then?”

-- “Venerable sir, if the people of Sunaparanta do give me a blow with the fist, then I shall think: ‘These people of Sunaparanta are kind, truly kind, in that they did not give me a blow with a clod.’ Then I shall think thus, Blessed One; then I shall think thus, Sublime One.”

-- “But, Punna, if the people of Sunaparanta do give you a blow with a clod, what will you think then?”

-- “Venerable sir, if the people of Sunaparanta do give me a blow with a clod, then I shall think: ‘These people of Sunaparanta are kind, truly kind, in that they did not give me a blow with a stick.’ Then I shall think thus, Blessed One; then I shall think thus, Sublime One.” [269]

-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?

-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: ""Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta". Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.

-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?

-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: "Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta". Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.

-- “But, Punna, if the people of Sunaparanta do give you a blow with a stick, what will you think then?”

-- “Venerable sir, if the people of Sunaparanta do give me a blow with a stick, then I shall think: ‘These people of Sunaparanta are kind, truly kind, in that they did not give me a blow with a knife.’ Then I shall think thus, Blessed One; then I shall think thus, Sublime One.”

-- “But, Punna, if the people of Sunaparanta do give you a blow with a knife, what will you think then?”

-- “Venerable sir, if the people of Sunaparanta do give me a blow with a knife, then I shall think: ‘These people of Sunaparanta are kind, truly kind, in that they have not taken my life with a sharp knife.’ Then I shall think thus, Blessed One; then I shall think thus, Sublime One.”

-- “But, Punna, if the people of Sunaparanta do take your life with a sharp knife, what will you think then?”

-- “Venerable sir, if the people of Sunaparanta do take my life with a sharp knife, then I shall think thus: ‘There have been disciples of the Blessed One who, being humiliated and disgusted by the body and by life, sought to have their lives deprived by the knife. But I have had my life deprived by the knife without seeking for it.’ Then I shall think thus, Blessed One; then I shall think thus, Sublime One.”

-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?

-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: "Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta". Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.

-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?

-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: "Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy đao sắc bén đoạt hại mạng ta". Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.

-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?

-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: "Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy". Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.

6. “Good, good, Punna! Possessing such self-control and peacefulness, you will be able to dwell in the Sunaparanta country. Now, Punna, it is time to do as you think fit.”

-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.

7. Then, having delighted and rejoiced in the Blessed One’s words, the venerable Punna rose from his seat, and after paying homage to the Blessed One, departed keeping him on his right. He then set his resting place in order, took his bowl and outer robe, and set out to wander towards the Sunaparanta country. Wandering by stages, he eventually arrived in the Sunaparanta country, and there he lived. Then, during that Rains, the venerable Punna established five hundred men lay followers and five hundred women lay followers in the practice, and he himself realised the three true knowledges. On a later occasion, the venerable Punna attained final Nibbana.

Rồi Tôn giả Punna, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, lấy y bát, rồi ra đi, đi đến nước Sunaparanta. Tiếp tục du hành, (Tôn giả Punna) đi đến nước Sunaparanta. Tại đây, Tôn giả Punna sống trong nước Sunaparanta. Rồi Tôn giả Punna nội trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh. Sau một thời gian, Tôn giả Punna mệnh chung.

8. Then a number of bhikkhus went to the Blessed One, and after paying homage to him, they sat down at one side and told him:

-- “Venerable sir, the clansman Punna, who [270] was given brief advice by the Blessed One, has died. What is his destination? What is his future course?”

-- “Bhikkhus, the clansman Punna was wise. He practised in accordance with the Dhamma and did not trouble me in the interpretation of the Dhamma. The clansman Punna has attained final Nibbana.”

That is what the Blessed One said. The bhikkhus were satisfied and delighted in the Blessed One’s words.

Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, Thiện nam tử Punna ấy, sau khi được Thế Tôn giáo giới với bài giáo giới vắn tắt đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì? Đời sau của vị ấy là thế nào?

-- Này các Tỷ-kheo, Thiện nam tử Punna là bậc Hiền trí. Vị ấy thực hành pháp và tùy pháp. Vị ấy không phiền nhiễu Ta với những câu hỏi về pháp. Này các Tỷ-kheo, Thiện nam tử Punna đã nhập Niết-bàn.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

 

Source:

Tài liệu tham khảo:

  1. http://thuvienhoasen.org/p15a1049/145-kinh-giao-gioi-phu-lau-na-punnovada-sutta
  2. http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/
  3. http://lirs.ru/lib/sutra/The_Middle_Length_Discourses(Majjhima_Nikaya),Nanamoli, Bodhi, 1995.pdf

****END****

Read 199 times Last modified on Saturday, 07 April 2018 06:17

Tìm Bài - Search

Sự Kiện Phật Pháp

info :
Published menu link to the component iCagenda not found!
December 2019
Mon Tue Wed Thu Fri Sat Sun
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31