Saturday, 02 June 2018 21:14

32. Chương 32: Trường Bộ Kinh - Kinh A-sá-nang-chi - Song ngữ

Written by
Rate this item
(0 votes)

 

The Long Discourses of the Buddha - Dìgha Nikàya

Trường Bộ Kinh

English: Maurice Walshe

Vietnamese: Hòa thượng Thích Minh Châu - Phật Lịch 2535 – 1991

Sưu Tầm: Lotus group – Nhóm Hoa Sen

Compile: Lotus group – Nhóm Hoa Sen

32. Chapter 32: Ātānātiya Sutta: The Ātānātā Protective Verses - Page 807 - 819

32. Chương 32: Trường Bộ Kinh - Kinh A-sá-nang-chi - Song ngữ

 

chương 32

 

32. Chapter 32: Ātānātiya Sutta: The Ātānātā Protective Verses - Page 807 - 819

32. Chương 32: Trường Bộ Kinh - Kinh A-sá-nang-chi - Song ngữ

 

[194] 1. THUS HAVE I HEARD.986 Once the Lord was staying at Rajagaha on Vultures’ Peak. And the Four Great Kings,987 with a great array of yakkhas, of gandhabbas, of kumbhandas and of nagas,988 having set up a guard, a defensive force, a watch over the four quarters,989 as night was drawing to a close, went to see the Lord, lighting up the entire Vultures’ Peak with their radiance, saluted him and sat down to one side. And some of the yakkhas saluted him and sat down to one side, some exchanged courtesies with him before sitting down, same saluted him with joined palms, some announced their name and clan, and some sat down in silence.990

Như vậy tôi nghe.

1. Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Bốn Thiên vương sau khi sắp đặt trấn giữ bốn phương với đại quân Yakkha (Dạ-xoa), đại quân Gandhabba (Càn-thát-bà), đại quân Kumbhanda (Cưu-bàn-trà) và đại quân Nàga (Na-già), án ngữ bốn phương, bảo trì bốn phương, trong đêm tối thâm sâu, với hào quang tuyệt diệu chói sáng toàn thể núi Linh Thứu, đến tại chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Các vị Dạ-xoa, có vị đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có vị nói lên những lời chúc tụng, hỏi thăm, rồi ngồi xuống một bên; có vị nói lên tên họ rồi ngồi xuống một bên; có vị im lặng, rồi ngồi xuống một bên.

2. Then sitting to one side, King Vessavana991 said to the Lord: ‘Lord, there are some prominent yakkhas who have no faith in the Blessed Lord, and others who have faith; and likewise [195] there are yakkhas of middle and lower rank who have no faith in the Blessed Lord, and others who have faith. But, Lord, the majority of yakkhas have no faith in the Blessed Lord. Why is this? The Blessed Lord teaches a code of refraining from taking life, from taking what is not given, from sexual misconduct, from lying speech, and from strong drink and sloth-producing drugs. But the majority of the yakkhas do not refrain from these things, and to do so is distasteful and unpleasant to them. Now, Lord, there are disciples of the Blessed Lord who dwell in remote forest glades, where there is little noise or shouting, far from the madding crowd, hidden from people, suitable for retreat. And there are prominent yakkhas living there who have no faith in the word of the Blessed Lord. In order to give these folk confidence, may the Blessed Lord leam992 the Ā?ānā?ā protective verses, by means of which monks and nuns, male and female lay-followers may dwell guarded, protected, unharmed and at their ease?’ And the Lord consented by silence.

Sau khi ngồi xuống một bên, đại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, có những thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn; bạch Thế Tôn có những thượng phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn, Bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn; bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, nhưng phần lớn các Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp để từ bỏ sát sanh, thuyết pháp để từ bỏ trộm cắp, thuyết pháp để từ bỏ tà dâm, thuyết pháp để từ bỏ nói láo, thuyết pháp để từ bỏ không uống các loại rượu. Bạch Thế Tôn, tuy vậy phần lớn các Dạ-xoa đều không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ trộm cắp, không từ bỏ tà dâm, không từ bỏ nói láo, không từ bỏ uống các loại rượu. Ðối với họ, Pháp ấy không được ưa thích, không được đón mừng. Bạch Thế Tôn, có những đệ tử của Thế Tôn, sống trong chốn thâm sâu cùng cốc, ít tiếng, ít động, có gió mát từ ngoài đồng thổi, che dấu không cho người thấy, thích hợp tịnh tu. Tại chỗ ấy, có những thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng lời dạy Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, hãy học chú Atànàtiyarakkha (A-sá-nang-chi Hộ Kinh) để học được lòng tin, để các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ có thể sống an lạc, được che chở, được hộ trì không bị tại họa.

Thế Tôn im lặng chấp thuận.

3. Then King Vessavana, noting the Lord’s consent, at once recited these Āṭānāṭā protective verses:

‘Glory be to Vipassī,993

The splendid one of mighty vision.

Glory be to Sikhī too,

The compassionate to all.

Glory be to Vessabhū,

Bathed in pure asceticism.994 [196]

To Kakusandha glory be,

Victor over Māra’s host.

To Konāgamana glory too,

Brahmin fully perfect he.

Glory be to Kassapa,

Liberated every way,

Glory to Angirasa,

To the Sakyas’ radiant son,995

Teacher of the Dhamma he

That overcomes all suffering.

And they who from this world are freed,996

Seeing to the heart of things,

They who are so mild of speech,

Mighty and of wisdom too,

To him who helps both gods and men,

To Gotama they offer praise:

In wisdom trained, in conduct too,

Mighty and resourceful too.

Rồi đại vương Vessavana, biết được Thế Tôn đã chấp thuận, trong giờ phút ấy, đọc lên bài Atànàtiya Hộ Kinh:

Ðảnh lễ Vipassi (Tỳ-bà-thi),

Sáng suốt và huy hoàng!

Ðảnh lễ đấng Sikhi (Thi-khí)

Có lòng thương muôn loài!

Ðảnh lễ Vessabha (Tỳ-xá-bà),

Thanh tịnh, tu khổ hạnh!

Ðảnh lễ Kakusandha (Câu-lâu-tôn),

Vị nhiếp phục ma quân!

Ðảnh lễ Konàgamana, (Câu-na-hàm)

Bà-la-môn viên mãn!

Ðảnh lễ kassapa (Ca-diếp),

Vị giải thoát muôn mặt!

Ðảnh lễ Angirasa,

Vị Thích tử huy hoàng,

Ðã thuyết chơn diệu pháp,

Diệt trừ mọi khổ đau!

Ai yểm ly thế giới,

Nhìn đời đúng như chơn,

Vị ấy không hai lưỡi,

Bậc vĩ đại thanh thoát.

Cùng đảnh lễ Gotama,

Lo an lạc Nhơn Thiên

Trì giới đức viên mãn!

Bậc vĩ đại thanh thoát!

4. ‘The point from where the sun comes up,

Aditya’s child, in mighty arc,

At whose arising shrouding night

Is dispelled and vanishes,

So that with the risen sun

There comes to be what folk call Day,

There too this moving watery mass,

The deep and mighty ocean swells,

This men know, and this they call

Ocean or The Swelling Sea. [197]

This quarter is the East, or First:997

That is how the people call it.

This quarter’s guarded by a king,

Mighty in power and fame is he,

Lord of all the gandhabbas.

Dhatarattha is his name,

Honoured by the gandhabbas.

Their songs and dances he enjoys.

He has many mighty sons,

Eighty, ten and one, they say,

And all with but a single name,

Called after Indra, lord of strength.

And when the Buddha greets their gaze,

Buddha, kinsman of the Sun,

From afar they offer homage

To the Lord of wisdom true:

“Hail, o man of noble race!

Hail to you, the first of men!

In kindness you have looked on us,

Who, though not human, honour you!

Often asked, do we revere

Gotama the Conqueror? —

We reply: ‘We do revere

Gotama, great Conqueror,

In wisdom trained, in conduct too,

Buddha Gotama we hail!’”

Mặt trời sáng mọc lên,

Vầng thái dương tròn lớn,

Khi mặt trời mọc lên,

Ðêm tối liền biến mất.

Khi mặt trời mọc lên

Liền được gọi là ngày.

Biển cả hải triều động,

Như hồ nước thâm sâu.

Ở đấy mọi người biết,

Chính biển cả hải triều,

Dân chúng gọi phương ấy

Là phương Purimà, (phương Đông).

Vị trị vì phương ấy,

Bậc đại vương danh xưng,

Chư loài Càn-thát-bà,

Danh gọi Dhatarattha (Trì Quốc Thiên vương).

Càn-thát-bà hầu quanh,

Hưởng múa hát của họ.

Vua này có nhiều con,

Ta nghe chỉ một tên,

Tám mươi và mười một,

Ðại lực, danh Inda.

Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,

Thuộc giòng họ mặt trời.

Từ xa, họ lễ Phật,

Bậc vĩ đại thanh thoát.

"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!

Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!

Thiện tâm nhìn chúng con,

Phi nhơn cũng lễ Ngài".

Ðã nhiều lần, nghe hỏi,

Nên đảnh lễ như vậy,

"Quý vị xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Chúng con xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Ðảnh lễ Gotama,

Bậc trí đức viên mãn".

5. ‘Where they whom men call petas998 dwell,

Abusive speakers, slanderers,

Murderous and greedy folk,

Thieves and cunning tricksters all, [198]

This quarter is the South, they say:

That is how the people call it.

This quarter’s guarded by a king,

Mighty in power and fame is he,

Lord of all the kumbhandas,

And Virūḷhaka is his name.

Honoured by the kumbhaṇḍas,

Their songs and dances he enjoys...

(continue as 4).

Họ được gọi Peta,

Nói hai lưỡi, sau lưng,

Sát sanh và tham đắm,

Ðạo tặc và man trá,

Dân chúng gọi phương ấy,

Là phương Dakkhinà (phương Nam).

Vị trị vì phương ấy,

Bậc đại vương, danh xưng,

Chủ loài Kumbhanda (Cưu-bàn-trà)

Danh gọi Virùlhaka (Tỳ-lâu-lặc).

Kumbhanda hầu quanh,

Hưởng múa hát của họ.

Vua này có nhiều con,

Ta nghe chỉ một tên,

Tám mươi và mười một,

Ðại lực, danh Inda.

Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,

Thuộc giòng họ mặt trời.

Từ xa, họ lễ Phật,

Bậc vĩ đại thanh thoát.

"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!

Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!

Thiện tâm nhìn chúng con,

Phi nhơn cũng lễ Ngài".

Ðã nhiều lần, nghe hỏi,

Nên đảnh lễ như vậy,

"Quý vị xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Chúng con xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Ðảnh lễ Gotama,

Bậc trí đức viên mãn".

6. ‘The point at which the sun goes down,

Aditya’s child, in mighty arc,

With whose setting day is done

And night, The Shrouder, as men say,

Comes again in daylight’s place,

There too this moving watery mass,

The deep and mighty ocean swells,

This they know, and this men call

Ocean, or The Swelling Sea.

This quarter is the West, or Last:999

Such is how the people call it. [199]

This quarter’s guarded by a king,

Mighty in power and fame is he,

Lord of all the naga folk,

And Virūpakkha’s his name.

Honoured by the nāga folk,

Their songs and dances he enjoys...

(continue as 4).

Mặt trời sáng lặn xuống,

Vầng thái dương trong lớn.

Khi mặt trời lặn xuống.

Ban ngày liền biến mất.

Khi mặt trời lặn xuống,

Liền được gọi là đêm.

Biển cả hải triều động,

Như hồ nước thâm sâu,

Ở đây mọi người hết,

Chính biển cả hải triều,

Dân chúng gọi phương ấy,

Là phương Pacchimà (phương Tây).

Vị trị vì phương ấy,

Bậc đại vương, danh xưng.

Chủ các loài Nàgà,

Danh Virùpakkha (Tỳ-lâu-bác-xoa).

Loài Nàgà hầu quanh,

Hưởng múa hát của họ.

Vua này có nhiều con,

Ta nghe chỉ một tên,

Tám mươi và mười một,

Ðại lực, danh Inda.

Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,

Thuộc giòng họ mặt trời.

Từ xa, họ lễ Phật,

Bậc vĩ đại thanh thoát.

"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!

Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!

Thiện tâm nhìn chúng con,

Phi nhơn cũng lễ Ngài".

Ðã nhiều lần, nghe hỏi,

Nên đảnh lễ như vậy,

"Quý vị xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Chúng con xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Ðảnh lễ Gotama,

Bậc trí đức viên mãn".

7. ‘Where lovely Northern Kuru lies,

Under mighty Neru fair,

There men dwell, a happy race,1000

Possessionless, not owning wives.1001

They have no need to scatter seed,

They have no need to draw the plough:

Of itself the ripened crop

Presents itself for men to eat.

Free from powder and from husk,

Sweet of scent, the finest rice, [200]

Boiling on hot oven-stones,1002

Such the food that they enjoy.

The ox their single-seated mount,1003

Thus they ride about the land.

Using women as a mount,

Thus they ride about the land;1004

Using men to serve as mount,

Thus they ride about the land;

Using maidens as a mount,

Thus they ride about the land;

Using boys to serve as mount,

Thus they ride about the land.

And so, carried by such mounts,

All the region they traverse

In the service of their king.

Elephants they ride, and horses too,

Cars fit for gods they have as well.

Splendid palanquins are there

For the royal retinue.

Cities too they have, well-built,

Soaring up into the skies:

Āṭānāṭā, Kusināṭā,

Parakusināṭā,

Nāṭapuriya is theirs,

And Parakusitanāṭā. [201]

Kapīvanta′s to the north,

Janogha, other cities too,

Navanavatiya, Ambara-

Ambaravatiya,1005

Āḷakamandā, city royal,

But where Kuvera dwells, their lord

Is called Visāṇā, whence the king

Bears the name Vessavana.1006

Those who bear his missions are

Tatolā, Tattalā,

Tototalā, then

Tejasi, Tatojasi,

Sura, Rājā, Arittha, Nemi.

There’s the mighty water Dharani,

Source of rain-clouds which pour down

When the rainy season comes.

Bhagalavati’s there, the hall

That is the yakkhas’ meeting-place,

Round it ever-fruiting trees

Full of many kinds of birds,

Where peacocks scream and herons cry,

And the cuckoo gently calls.

The jīva-bird who cries: “Live on!”1007

And he that sings: “Lift up your hearts!”1008 [202]

The pheasant-cock, kulīraka, 1009

The forest-crane, the rice-bird too,

And mynah-birds that mimic man,

And those whose name is “men on stilts”.

And there for ever beauteous lies

Fair Kuvera’s lotus-lake.

This quarter is the North, they say:

That is how the people call it.

This quarter’s guarded by a king,

Mighty in power and fame is he,

Lord of all the yakkha folk,

And Kuvera is his name.

Honoured by the yakkha folk,

Their songs and dances he enjoys.

He has many mighty sons,

Eighty, ten and one, they say,

And all with but a single name,

Called after Indra, lord of strength.

And when the Buddha greets their gaze,

Buddha, kinsman of the Sun,

From afar they offer homage

To the Lord of wisdom true:

“Hail, o man of noble race!

Hail to you, the first of men!

In kindness you have looked on us,

Who, though not human, honour you!

Often asked, do we revere

Gotama the Conqueror? —

We reply: ‘We do revere

Gotama, great Conqueror,

In wisdom trained, in conduct too,

Buddha Gotama we hail!’” [203]

Bắc Lô Châu (Uttarakurù) an lạc

Ðại Neru (Tu-di) đẹp đẽ.

Tại đấy, mọi người sống

Không sở hữu, chấp trước.

Họ không gieo hột giống,

Không cần phải kéo cày.

Loài người được thọ hưởng

Lúa chín khỏi nhọc công.

Loại gạo không cám trấu,

Thanh tịnh có hương thơm,

Ðược nấu chín trên đá,

Và họ ăn gạo ấy.

Chỉ cỡi loài bò cái,

Ði phương này phương khác.

Chỉ dùng các loài thú

Ði phương này phương khác.

Dùng xe đàn bà kéo,

Ði phương này phương khác.

Dùng xe đàn ông kéo,

Ði phương này phương khác.

Dùng xe con gái kéo,

Ði phương này phương khác.

Dùng xe con trai kéo,

Ði phương này phương khác.

Họ lên trên các xe,

Ði khắp mọi phương hướng,

Ðể phục vụ vua mình.

Họ cỡi xe voi kéo,

Xe ngựa, xe chư Thiên,

Ðối với vua danh xưng,

Có lâu đài, có kiệu,

Nhiều thành phố của vua,

Ðược xây giữa hư không.

Các thành Atànàtà,

Kusinàtà, Parakusinàtà, Nàttapuriyà, Parakusitannàtà

Kapìvanta thuộc phía Bắc,

Và các thành phố khác,

Như Janogha, Navanavatiya,

Ambara, Ambaravatiya,

Alakamandà,

Là kinh đô của vua,

Chỗ Kuvera ở.

Vị vua đáng kính này,

Kinh đô tên Visànà.

Do vậy Kuvera,

Ðược danh Vessavana.

Các sứ quán được tên:

Tatolà, Tattalà, Tatotalà,

Ojasi, Tejasi, Tatojasi,

Vua Sùra, Arittha, Nemi.

Ðây có vùng nước lớn,

Từ đây mưa đổ xuống,

Ðược tên Dharanì.

Tại đây mưa đổ xuống,

Ðược tên Dharanì.

Tại đây có giảng đường,

Tên Bhagalavati,

Chỗ Dạ-xoa tập hội.

Tại đây nhiều cây trái,

Trên cây chim tụ họp,

Các loại công, loại cò,

Diệu âm chim Kokilà,

Ở đây, chim Jiva,

Kêu tiếng "Hãy sống đi",

Và tiếng chim kêu lên,

"Hãy khởi tâm thích thú".

Nhiều loại chim sai khác,

Ở rừng và ở hồ,

Với con vẹt ồn ào,

Và con chim Mynah,

Các loại chim thần thoại,

Gọi là Dandamànavakà.

Hồ sen Kuvera,

Chiếu sáng tất cả trời,

Dân chúng gọi phương ấy,

Là phương Uttarà (phương Bắc).

Vị trị vì phương ấy,

Bậc đại vương danh xưng,

Chủ các loài Dạ-xoa,

Ðược gọi Kuvera.

Các Dạ-xoa hầu quanh,

Hưởng múa hát của chúng.

Vua này có nhiều con,

Ta nghe chỉ một tên,

Tám mươi và mười một,

Ðại lực, danh Inda.

Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,

Thuộc giòng họ mặt trời.

Từ xa, họ lễ Phật,

Bậc vĩ đại thanh thoát.

"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!

Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!

Thiện tâm nhìn chúng con,

Phi nhơn cũng lễ Ngài".

Ðã nhiều lần, nghe hỏi,

Nên đảnh lễ như vậy,

"Quý vị xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Chúng con xin đảnh lễ,

Gotama chiến thắng!

Ðảnh lễ Gotama,

Bậc trí đức viên mãn".

8. ‘These, sir, are the Āṭānāṭā protective verses, by means of which monks and nuns, male and female layfollowers may dwell guarded, protected, unharmed and at ease. If any monk or nun, male or female layfollower learns these verses well and has them off by heart, then if any non-human being, male or female yakkha or yakkha-offspring, or a chief attendant or servant of the yakkhas, any male or female gandhabba, ... kumbhanda, ... nāga,... should approach that person with hostile intent while he or she is walking or starting to walk, standing or rising to stand, seated or sitting down, lying down or starting to lie down, that non-human being would not gain any honour or respect in village or town. Such a being would not gain a footing or a lodging in my royal city of Alakamanda, he would not be admitted to the yakkhas’ assembly, nor would he be acceptable for taking or giving in marriage. And all the non-human beings, full of rage, would overwhelm him with abuse. Then they would bend down his head like an empty bowl, and they would split his skull into seven pieces.1010

Tôn giả, Hộ Kinh Atànàtiya này che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.

Khi một vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ nào sẽ học Hộ Kinh Atanatiya này một cách chín chắn, rõ ràng, nếu có loài phi nhân nào, Dạ-xoa, Dạ-xoa-ni, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)... hoặc Nàga... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ khi vị này đi; đứng gần, khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, thời này Tôn giả, vị phi nhân ấy trong làng hay trong đô thị sẽ không được ai đón mừng hay kính trọng. Này Tôn giả, phi nhân ấy, trong kinh đô Alakamada của Ta sẽ không tìm được đất đai hay chỗ ở. Vị phi nhân ấy sẽ không được đi dự hội giữa các Dạ-xoa. Này Tôn giả, vị phi nhân ấy sẽ không được cưới hỏi. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dùng những lời nói hỗn láo xấc xược đối với vị ấy. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dìm đầu vị ấy xuống. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ chẻ đầu vị ấy ra làm bảy mảnh.

9. ‘There are, sir, some non-human beings who are fierce, wild and terrible. They heed neither the Great Kings, nor their officers, nor their attendants. They are said to be [204] in revolt against the Great Kings. Just as the bandit-chiefs whom the King of Magadha has overcome do not heed him, or his officers, or their attendants, so too do they behave. Now if any yakkha or yakkha-offspring, ... gandhabba, ... should approach any monk, nun, male or female lay-follower...with hostile intent, that person should alarm, call out and shout to those yakkhas, the great yakkhas, their commanders and commanders-in-chief, saying: “This yakkha has seized me, has hurt me, harmed me, me, and will not let me go!”

Này Tôn giả, có hàng phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Chúng không nghe lời các đại vương, không nghe lời đình thần của các vị đại vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị đại vương. Này Tôn giả, các phi nhân này được xem là thù nghịch của các bậc đại vương. Này Tôn giả, như các đại tướng cướp vua xứ Magadha bị chinh phục. Cũng vậy, các vị này không nghe lời các vị đại vương, không nghe lời đình thần của các vị đại vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị đại vương. Này Tôn giả, các vị đại tướng cướp này được xem là kẻ thù nghịch của vua xứ Magadha - cũng vậy, này Tôn giả, có những vị phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Các vị này không nghe lời các đại vương, không nghe lời đình thần của các vị đại vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần các vị đại vương. Này Tôn giả, các vị phi nhân này được xem là kẻ thù nghịch của các bậc đại vương. Này Tôn giả, nếu có vị phi nhân nào, Dạ-xoa hay Dạ-xoa-ni nào... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ hay Nữ cư sĩ khi vị này đi, đứng gần khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, vị này hãy nói lên, kêu lên, van lên với các những vị Dạ-xoa ấy, đại Dạ-xoa ấy, quân sư, đại quân sư ấy: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".

10. ‘Which are the yakkhas, the great yakkhas, their commanders and commanders-in-chief? They are:

Inda, Soma, Varuna,

Bharadvaja, Pajapati,

Candana, Kamasettha,

Kinnughaṇḍu and Nighandu,

Panāda, Opamañña,

Devasuta, Matali,

Cittasena the gandhabba,

Nala, Raja, Janesabha,

Sātāgira, Hemavata,

Punnaka, Karatiya, Gula, [205]

Sivaka, Mucalinda too,

Vessāmitta, Yugandhara,

Gopāla, Suppagedha too,

Hiri, Netti and Mandiya,

Pañcālacaṇḍa, Alavaka,

Pajunna, Sumana, Sumukha,

Dadimukha, Mani too,

Then Mānicara, Digha,

And, finally, Serissaka.1011

These are the yakkhas, great yakkhas, their

commanders and commanders-in-chief who should be

called upon in case of such an attack.

Những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sự, đại quân sư nào được kêu gọi ở đây:

Inda, Soma, và Varuna,

Bhàradvaja, Pajàpati,

Candana, Kàmasettha,

Kinnughandu, Nighandu,

Panàda và Opamanna,

Devanita và Màtali,

Cittasena và Gandhabba.

Vua Nala, Janesabha,

Sàtàgira Hemavata,

Punnuaka, Karatiya, Gula,

Sivakat và Mucalinda

Vessàmitta, Yugandhara,

Gopàla và Suppagedha,

Hirì, Settì và Mandiya,

Pancàla Canda, Alavaka,

Pajjunna, Sumana, Sumukha,

Dadhimukha Mani Mànicara, Dìgha,

Atha và Serissaka.

Những vị này là những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư cần phải được nói lên, kêu lên, van lên: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".

11. ‘And these, sir, are the Āṭānāṭā protective verses by means of which monks and nuns, male and female lay-followers may dwell guarded, protected, unharmed and at ease. And now, sir, we must go: we have many duties, many things to do.’ ‘Do so, Kings, when you think fit.’

And the Four Great Kings stood up, saluted the Lord, passed by on his right side, and vanished. And the yakkhas stood up, and some saluted the Lord, passed by on his right, and vanished, some exchanged courtesies with the Lord, [206] some saluted him with joined palms, some announced their name and clan, some remained silent, and they all vanished.

Này Tôn giả, đây là Hộ Kinh Atànàtiyà che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.

Thưa Tôn giả, nay chúng tôi cần phải đi, chúng tôi có nhiều việc, có nhiều bổn phận.

- Ðại vương, Ðại vương hãy làm điều gì Ðại vương nghĩ là phải thời.

Rồi bốn vị đại vương, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về phía Ngài rồi biến mất tại đấy.

Các vị Dạ-xoa ấy, từ chỗ ngồi đứng dậy, có vị đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ; có vị nói lên những lời hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị chấp tay hướng đến Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị nói lên tên họ của mình rồi biến mất tại chỗ; có vị im lặng biến mất tại chỗ.

12. And when the night was over, the Lord said to the monks: ‘Monks, this night the Four Great Kings... came to see the Lord... (repeat the whole of verses 1 — 11).

Rồi Thế Tôn sau khi đêm đã mãn, liền gọi các vị Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, khi hôm, bốn vị đại vương cùng với đại quân sư Dạ-xoa:

"Ðảnh lễ Vipassi (Tỳ-bà-thi)

Sáng suốt và huy hoàng;

Ðảnh lễ đấng Sikhi, (Thi-khí)

Có lòng thương muôn loài...

Này Tôn giả, đó là hộ kinh Atànàtiyà che chở, hộ trì, ... (như trên) ... rồi biến mất tại chỗ".

13. ‘Monks, you should learn these Āṭānāṭā protective verses, master them and remember them. They are for your benefit, and through them monks and nuns, male and female lay-followers may dwell guarded, protected, unharmed and at ease.’ Thus the Lord spoke. And the monks were delighted and rejoiced at his words.

Này các Tỷ-kheo, hãy học Hộ Kinh Atànàtiyà này, hãy thuộc lòng Kinh Atànàtiyà này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ thọ trì lời dạy Thế Tôn.

 

Sources

Tài liệu tham khảo:

  1. http://lirs.ru/lib/sutra/Long_Discourses_of_the_Buddha(Digha_Nikaya).Walshe.pdf
  2. https://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong32.htm

Read 259 times Last modified on Saturday, 02 June 2018 21:21

Tìm Bài - Search

Sự Kiện Phật Pháp

info :
Published menu link to the component iCagenda not found!
October 2019
Mon Tue Wed Thu Fri Sat Sun
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31