Thời Kỳ A Hàm

Now on that occasion the bhikkhus at Kosambi had taken to quarrelling and brawling and were deep in disputes, stabbing each other with verbal daggers. They could neither convince each other nor be convinced by others; they could neither persuade each other nor be persuaded by others. Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Họ không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm; họ không tự hòa giải, không chấp nhận hòa giải...

“Bhikkhus, a bhikkhu who is an inquirer, not knowing how to gauge another’s mind, should make an investigation of the Tathagata in order to find out whether or not he is fully enlightened.” Này các Tỷ-kheo, vị tư sát Tỷ-kheo muốn biết rõ tập tánh (Cetapariyayam) của người khác, cần phải tìm hiểu về Như Lai, để ý thức được Ngài có Chánh Đẳng Giác hay không?..

Bhikkhus, for the most part beings have this wish, desire, and longing: If only unwished for, undesired, disagreeable things would diminish and wished for, desired, agreeable things would increase!’ Yet although beings have this wish, desire, and longing, unwished for, undesired, disagreeable things increase for them and wished for, desired, agreeable things diminish. Now, Bhikkhus, what do you think is the reason for that?Này các Tỷ-kheo, phần lớn các loài hữu tình có dục như thế này, có ước vọng như thế này, có nguyện vọng như thế này: "Ôi, mong rằng các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý được tiêu diệt! Mong rằng các pháp khả ái, khả lạc, khả ý được tăng trưởng!" Này các Tỷ-kheo, dầu cho các loài hữu tình ấy có dục như vậy, có ước vọng như vậy, có nguyện vọng như vậy, nhưng các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý được tăng trưởng; các pháp khả ái, khả lạc, khả ý bị tiêu diệt. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Người có biết vì nguyên nhân gì không?..

“Bhikkhus, there are four ways of undertaking things. What are the four? There is a way of undertaking things that is pleasant now and ripens in the future as pain. There is a way of undertaking things that is painful now and ripens in the future as pain. There is a way of undertaking things that is painful now and ripens in the future as pleasure. There is a way of undertaking things that is pleasant now and ripens in the future as pleasure. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại pháp hành này. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ. Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ. Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc. Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại lạc, và tương lai quả báo cũng lạc...

Thus I have heard: On one occasion the Blessed One was living at Rajagaha in the Bamboo Grove, the Squirrels’ Sanctuary. Then the lay follower Visakha went to the bhikkhuni Dhammadinna, and after paying homage to her, he sat down at one side and asked her: Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá), tai Veluvana (Trúc Lâm), chỗ Kalandaka Nivapa. Rồi nam cư sĩ Visakha đến chỗ Tỷ-kheo-ni Dhammadinna ở, sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni Dhammadinna rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Visakha thưa với Tỷ-kheo ni Dhammadinna:...

Thus I have heard: On one occasion the Blessed One was living at Savatthi in Jeta’s Grove, Anathapindika’s Park.

Then, when it was evening, the venerable Maha Kotthita rose from meditation, went to the venerable Sariputta, and exchanged greetings with him. When this courteous and amiable talk was finished, he sat down at one side and said to the venerable Sariputta: Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, tịnh xá ông Anathapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha Kotthita (Đại Câu-hy-la), vào buổi chiều, khi thiền định xong, đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Sariputta ở, sau khi đến nói lên với Tôn giả Sariputta những lời chào đón, hỏi thăm xã giao rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Maha Kotthita nói với Tôn giả Sariputta:...

Now on that occasion some brahmin householders of Veranja were on a visit to Savatthi for some business or other. Lúc bấy giờ các gia chủ Bà-la-môn Veranjaka đến trú tại Savatthi vì một vài công việc...

Thus I have heard: On one occasion the Blessed One was wandering by stages in the Kosalan Country with a large Sangha of bhikkhus, and eventually he arrived at a Kosalan brahmin village named Sala. Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn đang du hành trong nước Kosala (Kiều tất la) cùng với Đại chúng Tỷ-kheo đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala tên là Sala...

“‘Recluses, recluses,’ Bhikkhus, that is how people perceive you. And when you are asked, ‘What are you?’ you claim that you are recluses. Since that is what you are designated and what you claim to be, you should train thus: ‘We will practice the way proper to the recluse so that our designations may be true and our claims genuine, and so that the services of those whose robes, alms food, resting place, and medicinal requisites we use shall bring them great fruit and benefit, and so that our going forth shall not be in vain but fruitful and fertile.’ Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỷ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông có được hỏi: "Các Ông là ai!" Các Ông phải tự nhận: "Chúng tôi là Sa-môn". Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: "Những pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, chúng ta sẽ tu tập pháp môn ấy. Như vậy danh xưng này của chúng ta mới chân chính và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những thứ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích"...

“‘Recluses, recluses,’ Bhikkhus, that is how people perceive you. And when you are asked, ‘What are you? You claim that you are recluses. Since that is what you are designated and what you claim to be, you should train thus: ‘We will undertake and practice those things that make one a recluse, that make one a Brahmin, so that our designations may be true and our claims genuine, and so that the services of those whose robes, alms food, resting place, and medicinal requisites we use shall bring them great fruit and benefit, and so that our going forth shall not be in vain but fruitful and fertile.’ Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỷ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông được hỏi: "Các Ông là ai!" Các Ông phải tự nhận: "Chúng tôi là Sa-môn". Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: "Chúng ta sẽ thọ trì và thực hành những pháp tác thành Sa-môn, những pháp tác thành Bà-la-môn. Như vậy, danh xưng này của chúng ta mới chân chánh và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những đồ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích"...

Tìm Bài - Search

Sự Kiện Phật Pháp

info :
Published menu link to the component iCagenda not found!
April 2020
Mon Tue Wed Thu Fri Sat Sun
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30