04. Chương 4 – Book 3 - Phẩm Niết Bàn - Song ngữ

 

The Questions of King Milinda - King Milinda Vấn đạo

Book III:  The Removal Of Difficulties

English: T. W. Rhys Davids – From Pali Language

Việt ngữ: Tỳ khưu Indacanda (Trương Đình Dũng)

Compile: Nhóm hoa sen

04. Chương 4 – Book 3 - Phẩm Niết Bàn - Song ngữ

 

Book 3 title 1

 

Reverence be to the Blessed One, The Arahat, and the Sammâ-SamBudda.

Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, và đấng Chánh Biến Tri.

 

****    ****    ****    ****

 

04. Chương 4 – Book 3 - Phẩm Niết Bàn - Song ngữ

 

****    ****    ****

Book III - Quyển III

VIMATI-KKHEDANA-PAÑHO.

THE REMOVAL OF DIFFICULTIES.

Chương 4 – Chapter 4 - Phẩm Niết Bàn – 10 câu hỏi

****    ****    ****

 

  1. Q & A>

The king said:

'When those conditions (whose marks you have just specified) have run together, is it possible, by bending them apart one to one side and one to the other 1, to make the distinction between them clear, so that one can say:,' This is contact, and this sensation, and this idea, and this intention, and this perception, and this reflection, and this investigation 2"?'

Đức vua đã nói rằng:

“Thưa ngài Nāgasena, đối với các pháp được gom chung thành một bản thể này, có thể nào lần lượt tách rời và chỉ ra sự khác biệt của chúng: ‘cái này là xúc, cái này là thọ, cái này là tưởng, cái này là tư, cái này là thức, cái này là tầm, cái này là tứ’?”

 

'No: that cannot be done.'

'Give me an illustration.'

“Tâu đại vương, đối với các pháp được gom chung thành một bản thể này, không thể nào lần lượt tách rời và chỉ ra sự khác biệt của chúng: ‘cái này là xúc, cái này là thọ, cái này là tưởng, cái này là tư, cái này là thức, cái này là tầm, cái này là tứ.’”

“Xin ngài cho ví dụ.”

 

'Suppose, O king, the cook in the royal household were to make a syrup or a sauce, and were to put into it curds, and salt, and ginger, and cummin seed 3, and pepper, and other ingredients. And suppose the king were to say to him: "Pick out for me the flavour of the curds, and of the salt, and of the ginger, and of the cummin seed, and of the pepper, and of all the things you have put into it." Now would it be possible, great king, separating off one from another those flavours that had thus run together, to pick out each one, so that one could say: "Here is the sourness, and here the saltness, and here the pungency, and here the acidity, and here the astringency, and here the sweetness 4"?'

“Tâu đại vương, giống như người đầu bếp của đức vua thực hiện món súp hoặc nước chấm, người ấy nêm sữa, nêm muối, nêm gừng, nêm thìa là, nêm tiêu, nêm các gia vị khác vào trong món đó, đức vua nói với người ấy như vầy: ‘Hãy đem cho trẫm nước chấm vị sữa, hãy đem cho trẫm nước chấm vị muối, hãy đem cho trẫm nước chấm vị gừng, hãy đem cho trẫm nước chấm vị thìa là, hãy đem cho trẫm nước chấm vị tiêu, hãy đem cho trẫm nước chấm đã được nêm tất cả các thứ.’ Tâu đại vương, đối với các vị nếm được gom chung thành một bản thể ấy, có thể nào lần lượt tách rời và mang lại nước chấm có vị chua, hoặc có vị mặn, hoặc có vị đắng, hoặc có vị cay, hoặc có vị chát, hoặc có vị ngọt không?”

 

  1. 98

 

'No, that would not be possible [64]. But each flavour would nevertheless be distinctly present by its characteristic sign.'

“Thưa ngài, đối với các vị nếm được gom chung thành một bản thể ấy, không thể nào lần lượt tách rời và mang lại nước chấm có vị chua, hoặc có vị mặn, hoặc có vị đắng, hoặc có vị cay, hoặc có vị chát, hoặc có vị ngọt được, mặc dầu chúng hiện diện với đặc điểm riêng của từng vị một.”

 

'And just so, great king, with respect to those conditions we were discussing.'

'Very good, Nâgasena!'

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với các pháp được gom chung thành một bản thể này, không thể nào lần lượt tách rời và chỉ ra sự khác biệt của chúng: ‘cái này là xúc, cái này là thọ, cái này là tưởng, cái này là tư, cái này là thức, cái này là tầm, cái này là tứ,’ mặc dầu chúng hiện diện với đặc điểm riêng của từng pháp một.”

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”

 

  1. Q & A.

The Elder said:

'Is salt, O king, recognisable by the eye?'

Vị trưởng lão đã nói rằng:

“Tâu đại vương, muối có thể được nhận biết bằng mắt không?”

 

'Yes, Sir, it is.'

'But be careful, O king.'

“Thưa ngài, đúng vậy. Có thể được nhận biết bằng mắt.”

“Tâu đại vương, có đúng là đại vương biết một cách chắc chắn?

 

'Well then, Sir, is it perceptible by the tongue?'

'Yes, that is right.'

“Thưa ngài, phải chăng có thể được nhận biết bằng lưỡi?”

“Tâu đại vương, đúng vậy. Có thể được nhận biết bằng lưỡi.”

 

'But, Sir, is it only by the tongue that every kind of salt is distinguished?'

'Yes, every kind.'

“Thưa ngài, phải chăng nhận biết tất cả các loại muối bằng lưỡi?”

“Tâu đại vương, đúng vậy. Nhận biết tất cả các loại muối bằng lưỡi.”

 

'If that be so, Sir, why do bullocks bring whole cart-loads of it? Is it not salt and nothing else that ought to be so brought?'

  “Thưa ngài, nếu nhận biết tất cả các loại muối bằng lưỡi, tại sao những con bò mang muối lại bằng các xe kéo? Không lẽ có thể mang lại chỉ riêng muối thôi?”

 

'It is impossible to bring salt by itself. But all these conditions 1 have run together into one, and produced the distinctive thing called salt 2. (For instance): salt is heavy, too. But is it possible, O king, to weigh salt?'

“Tâu đại vương, không thể mang lại chỉ riêng muối thôi. Các vật được gom chung thành một bản thể này có bản chất khác biệt về lãnh vực, và muối có tính chất nặng nề.”

 

  1. 99

 

Nay, great king, it is not the salt you weigh, it is the weight.'

'Certainly, Sir.'

'You are ready, Nâgasena, in argument.'

“Tâu đại vương, phải chăng có thể cân muối bằng cân?”

“Thưa ngài, đúng vậy. Có thể.”

“Tâu đại vương, không có thể cân muối bằng cân. Tính chất nặng nề (của muối) được cân bằng cân.”

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”

 

  1. Q & A.

[65] The king said:

'Are the five Âyatanas, Nâgasena, (eye, ear, nose, tongue, and body,) produced by various actions, or by one action?' (that is, the result of various Karmas, or of one Karma.)

Đức vua đã nói rằng:

“Thưa ngài Nāgasena, có phải năm xứ [1] được sanh lên do các việc làm khác nhau, hay là do một việc làm?”

 

'By various actions, not by one.'

'Give me an illustration.'

“Tâu đại vương, chúng được sanh lên do các việc làm khác nhau, không phải do một việc làm.”

“Xin ngài cho ví dụ.”

 

'Now, what do you think, O king? If I were to sow in one field five kinds of seed, would the produce of those various seeds be of different kinds?'

'Yes, certainly.'

“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Năm loại hạt giống gieo ở một cánh đồng, đối với các loại hạt giống khác nhau phải chăng các quả khác nhau được sanh lên?”

“Tâu đại vương, đúng vậy. Chúng được sanh lên.”

 

'Well, just so with respect to the production of Âyatanas.'

'Very good, Nâgasena 2!'

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế năm xứ được sanh lên do các việc làm khác nhau, không phải do một việc làm.”

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”

 

  1. Q & A.

The king said:

'Why is it, Nâgasena, that all men are not alike, but some are short-lived and some long-lived, some sickly and some healthy, some ugly and some beautiful, some without influence and some of great power, some poor and some wealthy, some low born and some high born, some stupid and somewise?'

Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, vì lý do gì mà toàn thể loài người là không giống nhau, những kẻ này yểu thọ, các kẻ khác trường thọ, những kẻ này nhiều bệnh, các kẻ khác ít bệnh, những kẻ này có sắc xấu, các kẻ khác có sắc tốt, những kẻ này có ít quyền lực, các kẻ khác có nhiều quyền lực, những kẻ này có ít của cải, các kẻ khác có nhiều của cải, những kẻ này có gia tộc hạ tiện, các kẻ khác có gia tộc thượng lưu, những kẻ này có tuệ tồi, các kẻ khác có tuệ?”

 

  1. 101

 

The Elder replied: 'Why is it that all vegetables are not alike, but some sour, and some salt, and some pungent, and some acid, and some astringent, and some sweet?'

'I fancy, Sir, it is because they come from different kinds of seeds.'

Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, vì sao tất cả các cây cối là không giống nhau, những cây này là chua, các cây khác là mặn, những cây này là đắng, các cây khác là cay, những cây này là chát, các cây khác là ngọt?”

“Thưa ngài, trẫm nghĩ là vì việc làm khác nhau của hạt giống.” 

 

'And just so, great king, are the differences you have mentioned among men to be explained. For it has been said by the Blessed One: "Beings, O brahmin, have each their own Karma, are inheritors of Karma, belong to the tribe of their Karma, and are relatives by Karma, have each their Karma as their protecting overlord. It is Karma that divides them up into low and high and the like divisions 1."'

'Very good, Nâgasena!'

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế vì việc làm khác nhau của các nghiệp mà toàn thể loài người là không giống nhau, những kẻ này yểu thọ, các kẻ khác trường thọ, những kẻ này nhiều bệnh, các kẻ khác ít bệnh, những kẻ này có sắc xấu, các kẻ khác có sắc tốt, những kẻ này có ít quyền lực, các kẻ khác có nhiều quyền lực, những kẻ này có ít của cải, các kẻ khác có nhiều của cải, những kẻ này có gia tộc hạ tiện, các kẻ khác có gia tộc thượng lưu, những kẻ này có tuệ tồi, các kẻ khác có tuệ. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này người thanh niên, chúng sanh là các chủ nhân của nghiệp, là những kẻ thừa tự của nghiệp, có nghiệp là căn nguyên, có nghiệp là thân quyến, có nghiệp là nơi nương tựa, nghiệp phân loại các chúng sanh tức là theo tính chất hạ liệt hay cao quý.’”

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”

 

  1. Q & A.

The king said:

'You told me, Nâgasena, that your renunciation was to the end that this sorrow might perish away, and no further sorrow might spring up 2.'

Đức vua đã nói rằng:

“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Làm cách nào để cho khổ này diệt và khổ khác không thể sanh lên?

 

[66] 'Yes, that is so.'

Tâu đại vương, sự xuất gia của chúng tôi là với mục đích ấy.

 

'But is that renunciation brought about by previous effort, or to be striven after now, in this present time?'

“Có lợi ích gì với việc đã tinh tấn trước đây? Chẳng phải là nên tinh tấn trong thời hiện tại hay sao?”

 

The Elder replied: 'Effort is now concerned with what still remains to be done, former effort has accomplished what it had to do.'

'Give me an illustration 3.'

Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, sự tinh tấn trong thời hiện tại thì chưa làm được việc, sự tinh tấn trước đây thì đã làm được việc.”

“Xin ngài cho ví dụ.”

 

  1. 102

 

'Now what do you think, O king? Is it when you feel thirst that you would set to work to have a well or an artificial lake dug out, with the intention of getting some water to drink?'

'Certainly not, Sir.'

“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Phải chăng khi nào đại vương bị khát thì khi ấy đại vương mới bảo đào giếng nước, mới bảo đào hồ nước (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ uống nước’?”

“Thưa ngài, không đúng.”

 

'Just so, great king, is effort concerned now with what still remains to be done, former effort has accomplished what it had to do.'

'Give me a further illustration.'

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế sự tinh tấn trong thời hiện tại thì chưa làm được việc, sự tinh tấn trước đây thì đã làm được việc.”

“Xin ngài cho thêm ví dụ.”

 

'Now what do you think, O king? Is it when you feel hungry that you set to work to have fields ploughed and seed planted and crops reaped with the intention of getting some food to eat?'

'Certainly not, Sir.'

“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Phải chăng khi nào đại vương thèm ăn thì khi ấy đại vương mới bảo cày ruộng, mới bảo trồng lúa sāli, mới bảo đem thóc lại (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ thọ dụng bữa ăn’?”

“Thưa ngài, không đúng.”

 

'Just so, great king, is effort concerned now with what still remains to be done, former effort has accomplished what it had to do.'

'Give me a further illustration.'

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế sự tinh tấn trong thời hiện tại thì chưa làm được việc, sự tinh tấn trước đây thì đã làm được việc.”

“Xin ngài cho thêm ví dụ.”

 

'Now what do you think, O king? Is it when the battle is set in array against you that you set to work to have a moat dug, and a rampart put up, and a watch tower built, and a stronghold formed, and stores of food collected? Is it then that you would have yourself taught the management of elephants, or horsemanship, or the use of the chariot and the bow, or the art of fencing?'

'Certainly not, Sir.'

“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Phải chăng khi nào đại vương lâm trận thì khi ấy đại vương mới bảo đào hào, mới bảo đắp lũy, mới bảo xây cổng thành, mới bảo làm vọng gác, mới bảo đem lại thóc, khi ấy đại vương mới rèn luyện về voi, mới rèn luyện về ngựa, mới rèn luyện về xe, mới rèn luyện về cung, mới rèn luyện về gươm?”

“Thưa ngài, không đúng.”

 

'Just so, great king, is effort concerned now with what still remains to be done, former effort has accomplished what it had to do. For it has been thus said, O king, by the Blessed One:

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế sự tinh tấn trong thời hiện tại thì chưa làm được việc, sự tinh tấn trước đây thì đã làm được việc. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: 

 

"Betimes let each wise man work out

That which he sees to be his weal!

Not with the carter's mode of thought, but firm p. 103

Let him, with resolution, step right out.

As a carter who has left the smooth high road,

And turned to byways rough, broods ill at ease 1--

(Like him who hazards all at dice, and fails)--

So the weak mind who still neglects the good,

And follows after evil, grieves at heart,

When fallen into the power of death, as he,

The ruined gamester, in his hour of need 2."

[67] 'Very good, Nâgasena.

‘Người biết việc nào lợi ích cho mình thì nên làm việc ấy trước. Không có ý nghĩ như kẻ đánh xe bò, bậc thông minh sáng trí nên cố gắng.

Giống như kẻ đánh xe bò từ bỏ con đường lớn bằng phẳng đi vào con đường gồ ghề, bị gãy trục xe rồi bực bội.

Như vậy, sau khi xa lìa Chánh Pháp, xu hướng theo phi pháp, kẻ ngu bị rơi vào miệng thần chết, sầu muộn như kẻ bị gãy trục xe vậy.’”

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”

 

  1. Q & A.

The king said:

'You (Buddhists 3) say thus:

"The fire of purgatory is very much fiercer than an ordinary fire. A small stone cast into an ordinary fire may smoke for a day without being destroyed; but a rock as big as an upper chamber cast into the furnace of purgatory would be that moment destroyed."

That is a statement I cannot believe. Now, on the other hand you say thus: "Whatsoever beings are there reborn, though they

 

  1. 104

 

burn for hundreds of thousands of years in purgatory, yet are they not destroyed." That too is a statement 1 don't believe.'

Đức vua đã nói rằng:

“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng:

‘Lửa địa ngục nóng dữ dội hơn lửa bình thường. Một hòn đá nhỏ bé được ném vào trong lửa bình thường, trong khi bị đốt cháy trọn ngày vẫn không bị tiêu hoại, còn tảng đá thậm chí lớn bằng ngôi nhà mái nhọn được ném vào trong lửa địa ngục liền bị tiêu hoại trong giây lát.’

Trẫm không tin lời nói này. Hơn nữa, ngài còn nói như vầy: ‘Chúng sanh nào sanh ra ở nơi ấy, trong khi bị nung nấu ở địa ngục thậm chí trong nhiều ngàn năm, vẫn không bị tiêu hoại,’ trẫm cũng không tin lời nói này.”

 

The Elder said: 'now what do you think, O king? Do not the females of sharks 1 and crocodiles and tortoises and peacocks and pigeons eat hard bits of stone and gravel?'

'Yes, Sir. They do.'

Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Các loài như cá đao cái, cá sấu cái, rùa cái, công mái, bồ câu mái, phải chăng chúng ăn các hòn đá và các hạt cát cứng rắn?”

“Thưa ngài, đúng vậy. Chúng ăn.”

 

'What then? Are these hard things, when they have got into the stomach, into the interior of the abdomen, destroyed?'

'Yes, they are destroyed.'

“Vậy có phải các thứ này khi đã đi vào bên trong bao tử ở bụng của chúng thì bị tiêu hoại?”

“Thưa ngài, đúng vậy. Chúng bị tiêu hoại.”

 

'And the embryo that may be inside the same animals,--is that too destroyed?'

'Certainly not.'

“Vậy còn bào thai ở trong bụng của các loài thú cái ấy cũng bị tiêu hoại?”

“Thưa ngài, không đúng.”

 

'But why not.'

'I suppose, Sir, it escapes destruction by the influence of Karma.'

“Vì lý do gì?”

“Thưa ngài, trẫm nghĩ do tác động của nghiệp khiến chúng không bị tiêu hoại.”

 

'Just so, great king, it is through the influence of Karma that beings, though they have been for thousands of years in purgatory, are not destroyed. If they are reborn there, there do they grow up, and there do they die. For this, O king, has been declared by the Blessed One: "He does not die until that evil Karma is exhausted 2."

'Give me a further illustration.'

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do tác động của nghiệp khiến chúng sanh ở địa ngục, trong khi bị nung nấu ở địa ngục thậm chí trong nhiều ngàn năm, vẫn không bị tiêu hoại; họ sanh ra ngay tại nơi ấy, lớn lên ngay tại nơi ấy, chết đi ngay tại nơi ấy. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Cho đến khi nào nghiệp ác ấy còn chưa được diệt tận thì chúng sanh địa ngục ấy vẫn không chết.’”

“Xin ngài cho thêm ví dụ.”

 

  1. 105

 

'Now what do you think, O king? Do not the females of lions and tigers and panthers and dogs eat hard bits of bone and flesh?'

'Yes, they eat such things.'

“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Các loài như sư tử cái, cọp cái, beo cái, chó cái, phải chăng chúng cũng ăn các khúc xương và các miếng thịt cứng rắn?”

“Thưa ngài, đúng vậy. Chúng ăn.”

 

'What then? Are such hard things, [68] when they have got into the stomach, into the interior of the abdomen, destroyed?'

'Yes, they are destroyed?'

“Vậy có phải các thứ này khi đã đi vào bên trong bao tử ở bụng của chúng thì bị tiêu hoại?”

“Thưa ngài, đúng vậy. Chúng bị tiêu hoại.”

 

'And the embryo that may be inside the same animals,--is that too destroyed?'

'Certainly not.'

'But why not?'

'I suppose, Sir, it escapes destruction by the influence of Karma.'

“Vậy còn bào thai ở trong bụng của các loài thú cái ấy cũng bị tiêu hoại?”

“Thưa ngài, không đúng.”

“Vì lý do gì?”

“Thưa ngài, trẫm nghĩ do tác động của nghiệp khiến chúng không bị tiêu hoại.”

 

'Just so, great king, it is by the influence of Karma that beings in purgatory, though they burn for thousands of years, are not destroyed.'

'Give me a further illustration.'

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do tác động của nghiệp khiến chúng sanh ở địa ngục trong khi bị nung nấu ở địa ngục thậm chí trong nhiều ngàn năm, vẫn không bị tiêu hoại.”

“Xin ngài cho thêm ví dụ.”

 

'Now what do you think, O king? Do not the tender women--wives of the Yonakas, and nobles, and Brahmins, and householders--eat hard cakes and meat.

'Yes, they eat such hard things.'

“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Các phụ nữ như các cô mảnh mai xứ Yona, các cô mảnh mai dòng Sát-đế-lỵ, các cô mảnh mai dòng Bà-la-môn, các cô gia chủ mảnh mai, phải chăng họ cũng ăn các vật nhai và các miếng thịt cứng rắn?”

“Thưa ngài, đúng vậy. Họ ăn.”

 

'And when those hard things have got into the stomach, into the interior of the abdomen, are not they destroyed?'

'Yes, they are.'

“Vậy có phải các thứ này khi đã đi vào bên trong bao tử ở bụng của họ thì bị tiêu hoại?”

“Thưa ngài, đúng vậy. Chúng bị tiêu hoại.”

 

'But the children in their womb,--are they destroyed?'

'Certainly not.'

'And why not?'

'I suppose, Sir, they escape destruction by the influence of Karma?'

“Vậy còn bào thai ở trong bụng của những phụ nữ ấy cũng bị tiêu hoại?”

“Thưa ngài, không đúng.”

“Vì lý do gì?”

“Thưa ngài, trẫm nghĩ do tác động của nghiệp khiến chúng không bị tiêu hoại.”

 

'Just so, great king, it is through the influence

 

  1. 106

 

of Karma that beings in purgatory, though they burn for thousands of years, yet are they not destroyed, If they are reborn there, there do they grow up, and there do they die. For this, O king, has been declared by the Blessed One: "He does not die until that evil Karma is exhausted."'

'Very good, Nâgasena!'

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do tác động của nghiệp khiến chúng sanh ở địa ngục trong khi bị nung nấu ở địa ngục thậm chí trong nhiều ngàn năm, vẫn không bị tiêu hoại; họ sanh ra ngay tại nơi ấy, lớn lên ngay tại nơi ấy, chết đi ngay tại nơi ấy. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Cho đến khi nào nghiệp ác ấy còn chưa được diệt tận thì chúng sanh địa ngục ấy vẫn không chết.’”

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”

 

  1. Q & A.

The king said:

'Venerable Nâgasena, your people say that the world rests on water, the water on air, the air on space 1. This saying also I cannot believe.'

Đức vua đã nói rằng:

“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Đại địa cầu này được tồn tại ở nước, nước được tồn tại ở gió, gió được tồn tại ở hư không.’ Trẫm cũng không tin lời nói này.”

 

Then the Elder brought water in a regulation water-pot 2, and convinced king Milinda, saying: 'As this water is supported by the atmosphere, so is that water supported by air.'

'Very good, Nâgasena!'

Vị trưởng lão đã lấy nước bằng bình đựng nước rồi giúp cho đức vua Milinda hiểu được rằng: “Tâu đại vương, nước này được nâng đỡ bởi gió như thế nào thì nước kia cũng được nâng đỡ bởi gió như thế ấy.”

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”

 

  1. Q & A.

The king said:

'Is cessation Nirvâna 3?

Đức vua đã nói rằng:

“Thưa ngài Nāgasena, có phải sự diệt tận là Niết Bàn?”

 

'Yes, Your Majesty' [69].

'How is, that, Nâgasena?'

“Tâu đại vương, đúng vậy. Sự diệt tận là Niết Bàn.”

“Thưa ngài Nāgasena, sự diệt tận là Niết Bàn nghĩa là thế nào?”

 

'All foolish individuals, O king, take pleasure in

 

  1. 107

 

the senses and in the objects of sense, find delight in them, continue to cleave to them 1. Hence are they carried down by that flood (of human passions), they are not set free from birth, old age, and death, from grief, lamentation, pain, sorrow, and despair,--they are not set free, I say, from suffering. But the wise, O king, the disciple of the noble ones, neither takes pleasure in those things, nor finds delight in them, nor continues cleaving to them. And inasmuch as he does not, in him craving 2 ceases, and by the cessation of craving grasping 2 ceases, and by the cessation of grasping becoming 2 ceases, and when becoming has ceased birth ceases, and with its cessation birth, old age, and death, grief, lamentation, pain, sorrow, and despair cease to exist. Thus is the cessation brought about the end of all that aggregation of pain. Thus is it that cessation is Nirvâna.'

'Very good, Nâgasena!'

“Tâu đại vương, quả là tất cả những kẻ phàm phu ngu dốt thích thú tán thưởng, bám víu vào các nội và ngoại xứ. Chúng thả trôi theo dòng chảy ấy, không hoàn toàn thoát khỏi sự sanh, sự già, sự chết, các sự sầu bi khổ ưu não, tôi nói rằng chúng không hoàn toàn thoát khỏi khổ. Tâu đại vương, còn vị Thánh đệ tử, có sự học hỏi, không thích thú không tán thưởng, không bám víu vào các nội và ngoại xứ. Trong khi vị ấy không thích thú không tán thưởng, không bám víu vào các nội và ngoại xứ, ái bị diệt tận; do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của thủ; do sự diệt tận của thủ, có sự diệt tận của hữu; do sự diệt tận của hữu, có sự diệt tận của sanh; do sự diệt tận của sanh, già chết sầu bi khổ ưu não bị diệt tận. Như thế là sự diệt tận của toàn bộ khổ uẩn này. Tâu đại vương, sự diệt tận là Niết Bàn nghĩa là như vậy.”

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”

 

  1. Q & A.

The king said:

'Venerable Nâgasena, do all men receive Nirvâna?'

Đức vua đã nói rằng:

“Thưa ngài Nāgasena, có phải tất cả đều đạt được Niết Bàn?”

 

'Not all, O king. But he who walks righteously, who admits those conditions which ought to be admitted, perceives clearly those conditions which ought to be clearly perceived, abandons those conditions which ought to be abandoned, practises himself in those conditions which ought to be practised, realises those conditions which ought to be realised--he receives Nirvâna.'

'Very good, Nâgasena!'

“Tâu đại vương, không phải tất cả đều đạt được Niết Bàn. Tâu đại vương, người nào thực hành chân chánh biết rõ các pháp cần được biết rõ, biết toàn diện các pháp cần được biết toàn diện, dứt bỏ các pháp cần được dứt bỏ, tu tập các pháp cần được tu tập, chứng ngộ các pháp cần được chứng ngộ, người ấy đạt được Niết Bàn.”

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”

 

  1. 108

 

  1. Q & A.

The king said:

'Venerable Nâgasena, does he who does not receive Nirvâna know how happy a state Nirvâna is 1?'

Đức vua đã nói rằng:

“Thưa ngài Nāgasena, người nào chưa đạt được Niết Bàn, có phải người ấy biết được Niết Bàn là an lạc?”

 

'Yes, he knows it.'

'But how can he know that without his receiving Nirvâna?'

“Tâu đại vương, đúng vậy. Người nào chưa đạt được Niết Bàn, người ấy vẫn biết được Niết Bàn là an lạc.”

“Thưa ngài Nāgasena, trong khi không đạt được Niết Bàn làm thế nào lại biết được Niết Bàn là an lạc?”

 

'Now what do you think, O king? Do those whose hands and feet have not been cut off know how sad a thing it is to have them cut off?'

'Yes, Sir, that they know.'

“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Đối với những người có tay chân không bị chặt đứt, tâu đại vương, có phải họ có thể biết được sự chặt đứt tay chân là đau đớn.”

“Thưa ngài, đúng vậy.”

 

'But how do they know it?'

'Well, by hearing the sound of the lamentation of those whose hands and feet have been cut off, they know it.'

“Làm thế nào họ có thể biết được?”

“Thưa ngài, sau khi lắng nghe tiếng rên rỉ của những người khác có tay chân bị chặt đứt, họ biết được sự chặt đứt tay chân là đau đớn.”

 

[70] 'Just so, great king, it is by hearing the glad words of those who have seen Nirvâna that they who have not received it know how happy a state it is.'

'Very good, Nâgasena!'

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế sau khi lắng nghe những người đã thấy được Niết Bàn mà biết được Niết Bàn là an lạc.”

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”

 

 

Here ends the Fourth Chapter.

Phẩm Niết Bàn là thứ tư.

(Trong phẩm này có mười câu hỏi)

 

 

Footnotes – Chú thích

 

100:1 The chapters go straight on because Books II and III are really only parts of one Book. See above, p. 4.

 

100:2 The meaning here is not easy to follow, as the word Âyatana is used either for the organs of sense, or for the objects of sense; and there is nothing in the context to show which is meant. Probably the idea is that good sight, hearing, &c. in one birth are each the result of a separate Karma in the last birth. But I am by no means sure of this, and the Simhalese (p. 76) is just as ambiguous as the Pâli.

 

101:1 Mr. Trenckner points out that this quotation is from the Magghima, No. 135. The doctrine is laid down frequently elsewhere also in the Pitakas. See, for instance, Anguttara IV, 97 (pp. 202-203 of Dr. Morris's edition for the Pâli Text Society).

 

101:2 Above, II, 1, 5, p. 50, and compare I, 38.

 

101:3 These three illustrations recur (nearly) below, III, 7, 3, pp. 125-126.

 

103:1 Ghâyati. It is an odd coincidence that this word, which means either to burn or to meditate, according to the root from which it is derived, can be rendered here either 'burn' or 'brood' in English. In fact it is the second, not the first, root that is here intended, as is plain from such passages as Gâtaka III, 354, where the compound pagghâyati means 'to brood over a thing.'

 

103:2 Quoted from the Samyutta Nikâya II, 3, 2 (p. 57 in M. Feer's edition, published by the Pâli Text Society). The readings there differ slightly from those of our text here, and the verses are put into the mouth of Khema, the god, instead of being ascribed to the Buddha. Hînati-kumburê (p. 79) agrees with M. Léon Feer in reading mando for mano in the last line; and I have followed them in my translation. There are several stanzas in the Gâtaka book of carters lost in the desert, but there is nothing to identify any one of them with the story referred to.

 

103:3 'You' in the plural: that is, 'you Bhikkhus.' So also above, pp. 30, 50.

 

104:1 It may be noticed that the particular feminine forms chosen are in each case unusual, being in inî instead of the simple î. The first animal, the Makarinî, is said by Childers to be a mythical animal, but it is clear from Buddhaghosa on Kullavagga V, 1, 4, that an ordinary animal is meant, and that is so I think here, though the translation 'shark' is conjectural.

 

104:2 From Anguttara III, 35, 4 (p. 141 of Dr. Morris's edition for the Pâli Text Society).

 

106:1 This is not a distinctively Buddhist belief. It was commonly held at the time by other teachers. Compare 'Book of the Great Decease,' III, 13 (in 'Buddhist Suttas,' Sacred Books of the East, vol. xi, p. 45).

 

106:2 Dhamma-karakena. The passages show that this was a pot so made, that no water could pass from it except through a filtering medium. When not being actually used the water was no doubt kept at a certain height in it by the pressure of the atmosphere. I do not know of any specimen preserved in our modern museums or figured on ancient bas-reliefs, and the exact shape is unknown. It must be different from the one represented in plate xlviii of Cunningham's 'Bhilsa Tope.' See Kullavagga V, 13, 1 (note); VI, 21, 3; XII, 2, 1; Mahâvamsa, p. 60.

 

106:3 Nirodho nibbânan ti.

 

107:1 Agghosâya titthanti. Compare Anguttara II, 4, 6, and Theri Gâthâ, 794.

 

107:2 Tanhâ, Upâdâna, Bhava.

 

108:1 The opposite point (whether he who has Nirvâna, knows that he has it) is discussed above, II, 2.

 

Sources:

Tài liệu tham khảo:

  1. http://budsas.net/uni/u-kinh-mitien/mitien-00.htm
  2. http://www.tamtangpaliviet.net/VHoc/45/Mil_03.htm
  3. http://www.sacred-texts.com/bud/sbe35/sbe3502.htm
  4. http://globalbuddhismcommunity.com/vi-vn/Dictionary/AVThienPhuc/dtsr.aspx

 

Read 397 times Last modified on Saturday, 07 August 2021 00:27

Tìm Bài - Search

Main Menu

Xem Nhiều Nhất - Most Read

104. Chương 3 - Phẩm Đất - bài số 10 - The Sovran Overlord Buddha – Phật Chuyển Pháp Luân - Song ngữ 104. Chương 3 - Phẩm Đất - bài số 10 - The Sovran Overlord Buddha – Phật Chuyển Pháp Luân - Song ngữ Saturday, 16 July 2022 'Venerable Nâgasena, the four qualities of the sovran overlord... More detail
103. Chương 3 - Phẩm Đất - bài số 9 - Sakka – vị Sakka - Song ngữ 103. Chương 3 - Phẩm Đất - bài số 9 - Sakka – vị Sakka - Song ngữ Thursday, 14 July 2022 'Venerable Nâgasena, the three qualities of Sakka (the king... More detail
102. Chương 3 - Phẩm Đất - bài số 8 - The Sun – mặt trời - Song ngữ 102. Chương 3 - Phẩm Đất - bài số 8 - The Sun – mặt trời - Song ngữ Thursday, 30 June 2022 'Venerable Nâgasena, the seven qualities of the sun you say... More detail
101. Chương 3 - Phẩm Đất - bài số 7 - The Moon – mặt trăng - Song ngữ 101. Chương 3 - Phẩm Đất - bài số 7 - The Moon – mặt trăng - Song ngữ Thursday, 30 June 2022 'Venerable Nâgasena, those five qualities of the moon which... More detail
100. Chương 3 - Phẩm Đất - bài số 6 - The Space – hư không - Song ngữ 100. Chương 3 - Phẩm Đất - bài số 6 - The Space – hư không - Song ngữ Thursday, 30 June 2022 'Venerable Nâgasena, those five qualities of space which you... More detail
0.png0.png0.png4.png1.png5.png9.png0.png
Today19
Yesterday116
This week800
This month1668
Total41590

Visitor Info

  • Browser: Unknown
  • Browser Version:
  • Operating System: Unknown

Who Is Online

1
Online

2022-08-14